Khi các công ty trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tiếp tục đạt được nhiều thành tựu lớn trong đổi mới sáng tạo, phụ nữ – với tỷ trọng hơn 50% lực lượng lao động trong ngành – hy vọng có thể đóng góp nhiều hơn nữa. Họ mong muốn không chỉ tạo ra các tiến bộ công nghệ mà còn ứng dụng những thay đổi hiệu quả, thực tế vào công tác chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ trên toàn thế giới.

Hiện nay, chỉ 13% công ty trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ có nữ Giám đốc Điều hành và phụ nữ chỉ đảm nhiệm 30% vị trí quản lý trong ngành. Con số này khá khiêm tốn khi so sánh với tỷ lệ 50% bệnh nhân, 65% lực lượng lao động trong ngành y tế[1] và 80% người ra quyết định y tế trong gia đình là phụ nữ[2]. “Chúng ta cần có thêm nhiều nhà lãnh đạo nữ, tôi nghĩ rằng phụ nữ chúng ta ở một vị thế đặc biệt để có thể giải quyết một vài tồn tại trong ngành. Thực tế là đã có nhiều bằng chứng lịch sử cho thấy phụ nữ đã làm được điều đó” – Sandra Colner, Giám đốc Bộ phận Phòng thí nghiệm & Khoa học Đời sống của Tập đoàn Intel chia sẻ trong buổi tọa đàm “Lựa chọn thách thức” do GE tổ chức nhân ngày Quốc tế Phụ nữ.

Tọa đàm này còn có sự góp mặt của tiến sĩ Claire Bloomfield, Giám đốc Điều hành Hiệp hội Quốc gia về Chẩn đoán Hình ảnh Thông minh (NCIMI) tại Đại học Oxford (Anh); Stephanie Sassman, Trưởng nhóm Danh mục đầu tư, mảng Sức khỏe Phụ nữ của công ty Genentech thuộc tập đoàn dược phẩm Roche (Thuỵ Sĩ); và Karley Yoder, Giám đốc Kỹ thuật số mảng Siêu âm của GE Healthcare (Mỹ).

Trong buổi thảo luận, các chuyên gia đã nêu lên một số vấn đề chính cần cải thiện trong lĩnh vực y tế, đồng thời cũng đề xuất một số biện pháp để khắc phục vấn đề.

Khuyến khích thế hệ phụ nữ tương lai

Theo Karley Yoder, dù các công ty y tế đã tiến bộ hơn khi để phụ nữ tham gia quá trình ra quyết định nhưng vẫn còn nhiều điểm cần cải thiện về tỷ lệ nữ lãnh đạo trong ngành. “Chúng tôi sẽ thực hiện điều đó bằng cách khích lệ tất cả phụ nữ từ mọi bậc học cùng chung tay, ủng hộ họ chia sẻ thêm về công việc họ đang làm. Chúng tôi cũng suy nghĩ về việc lắng nghe từ nhiều góc nhìn, quan điểm đa dạng hơn” – Yoder nói.

Cô cũng bổ sung thêm: “Các nghiên cứu toàn diện về nhiều lĩnh vực đều chỉ ra rằng, nếu người tạo ra sản phẩm không đại diện cho người sử dụng sản phẩm đó thì sản phẩm sẽ thất bại”.

Do đó, nhằm thu hút thêm nhiều lao động nữ cho ngành y tế trong tương lai, một trong những cách tốt nhất mà phái đẹp trong ngành có thể làm là tương tác với thế hệ trẻ và nhấn mạnh vào việc theo đuổi các lĩnh vực khoa học và công nghệ – Stephanie Sassman bày tỏ quan điểm. “Tôi hy vọng có thể nhìn thấy tầm ảnh hưởng – ví dụ như có thêm nhiều sinh viên đăng ký học trường y và hy vọng rằng chúng ta cũng sẽ đạt được kết quả tương tự đối với các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật” – cô chia sẻ. “Chúng ta phải trao quyền cho thế hệ trẻ để họ không cảm thấy e ngại khi theo đuổi sự nghiệp trong lĩnh vực STEM”.

Biện pháp trên cùng với quyết tâm trong công tác tuyên truyền về tầm quan trọng của sức khỏe phụ nữ như khuyến khích họ đi khám sức khỏe, khám sàng lọc và yêu cầu khám bệnh từ xa khi cần có thể tạo ra khác biệt lớn.

Theo Colner, những người phụ nữ có địa vị cao trong ngành y tế cũng có thể hỗ trợ bằng cách ủng hộ nữ giới cùng ngành, khuyến khích họ đổi mới và khích lệ họ “truyền đam mê đặc biệt của mình vào cộng đồng rất đa dạng này”. Colner cho biết: “Chúng ta có thể thực sự tạo ra đột phá lớn và giải phóng sức mạnh của những dữ liệu mà chắc chắn sẽ có ý nghĩa lớn trong tương lai”.

Gây dựng niềm tin nơi người bệnh

Theo Yoder, dù các công ty chăm sóc sức khỏe ngày nay đang phát triển nhiều công nghệ hữu ích nhưng nếu những sản phẩm khoa học đó không thể tới tay bác sĩ cũng như không thể thay đổi cách bệnh nhân tiếp cận hệ thống y tế thì cả sản phẩm và công nghệ đều thất bại. Một sản phẩm muốn được đón nhận thì cần phải có sự tin tưởng. TS Claire Bloomfield cho hay, trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, “tất cả bệnh nhân đều muốn tin tưởng hệ thống y tế cùng những công nghệ họ sử dụng” và “để có được và duy trì sự tin tưởng đó, cần thiết kế những giải pháp cá nhân hoá khâu chăm sóc sức khỏe và y học chính xác cho tất cả mọi người, đồng thời có thể tùy chỉnh giải pháp để đáp ứng nhu cầu cá nhân”.

Theo TS Bloomfield, một cách để thực hiện điều đó là các công ty trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cần truyền đạt thông tin tốt hơn, đặc biệt là về cách họ sử dụng dữ liệu y tế của người bệnh, đồng thời họ cũng cần kết hợp những loại dữ liệu khác, bổ sung tính tiêu biểu và đa dạng vào bộ dữ liệu y tế. Điều này giúp đảm bảo rằng các giải pháp họ đang phát triển là đáng tin cậy và bác sĩ muốn sử dụng còn bệnh nhân sẽ hài lòng khi điều trị.

Mặt khác, việc bệnh nhân đồng ý chia sẻ và cho phép sử dụng dữ liệu cá nhân cũng là yếu tố không thể thiếu để có thể xây dựng cơ sở dữ liệu toàn diện nhất. Thay vì sợ rủi ro, người bệnh nên ủng hộ việc sử dụng dữ liệu của họ để đảm bảo rằng dữ liệu thu thập được phản ánh đúng tình trạng của cộng đồng. “Tôi nghĩ rằng cần có một lời kêu gọi chung tay” – tiến sĩ Bloomfield nói. “Mọi người có thể được bảo vệ khi chia sẻ dữ liệu hoặc khi dữ liệu của họ được sử dụng nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta cần phải đóng góp. Khi đóng góp dữ liệu, chúng ta có thể đảm bảo rằng giải pháp tạo ra sẽ giúp ích cho bản thân, gia đình, cộng đồng. Đây không phải là một quá trình thụ động”.

Thiết lập các quan hệ hợp tác bền chặt hơn

Suy cho cùng, những tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực y tế nên giúp hoàn thành một số mục tiêu như cho phép bác sĩ ít phải bận tâm giấy tờ hay thao tác máy tính ít hơn. Thay vào đó, họ có thể dành thời gian để hướng dẫn và hỗ trợ người bệnh, chăm sóc sức khỏe bệnh nhân tốt hơn – Yoder cho hay.

Cùng chủ đề về trải nghiệm khám bệnh, Sassman bổ sung: “Bệnh nhân luôn cảm thấy lo lắng trong suốt quá trình điều trị nhưng các cơ sở y tế có thể làm cho quá trình này liền mạch hơn thông qua việc mở rộng hợp tác với chính phủ, với các công ty khác hoặc những dự án khởi nghiệp”.

Sassman lấy ví dụ về khác biệt giữa quá trình phát hiện ung thư vú tại các quốc gia phát triển và đang phát triển. Tại Mỹ và Đức, tỷ lệ phụ nữ bị chẩn đoán ung thư vú giai đoạn di căn chỉ chiếm 5-6% so với con số 70% ở các quốc gia đang phát triển như ở châu Phi và Việt Nam. “Có nhiều cơ hội để giúp những người phụ nữ này được phát hiện bệnh sớm hơn nhờ các quan hệ đối tác mà chúng tôi có thể thiết lập với chính phủ và các công nghệ như trí tuệ nhân tạo AI” – Sassman trăn trở. “Các quan hệ đối tác xuyên suốt quá trình chăm sóc sức khoẻ liên tục giúp chúng tôi có thể mang đến nhiều điều tốt đẹp hơn cho phụ nữ trên toàn thế giới và gia đình của họ”.

Sáng tạo trong y tế đang liên tục mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh và những nữ chuyên gia trong ngành sẽ tiếp tục quan tâm đến các yếu tố thực sự quan trọng, từ đó mang lại những trải nghiệm chăm sóc sức khỏe đáng quý và toàn diện. “Tôi được truyền cảm hứng khi nhìn vào lĩnh vực công nghệ và cách họ mạo hiểm thử nghiệm các mô hình kinh doanh mới” – Sassman chia sẻ. “Đây là lúc làm điều tương tự trong ngành y tế – khi ta cần tập trung vào bệnh nhân nhiều hơn và suy nghĩ làm thế nào để có thể tạo ra một quá trình chăm sóc liên tục tốt hơn. Nếu ta lấy người bệnh làm trọng tâm và tiếp tục hợp tác với các bên liên quan, tôi thực sự tin rằng chúng ta có thể mang đến những điều tốt đẹp hơn cho phụ nữ và xã hội”.

Để biết thêm về những chia sẻ của các nhà lãnh đạo nữ trong lĩnh vực y tế và những tiến bộ họ đang góp sức xây dựng, độc giả vui lòng xem toàn bộ buổi thảo luận “Lựa chọn thách thức” do GE tổ chức qua video dưới đây:

[1] www.brinknews.com/women-make-up-65-percent-of-healthcare-workers-but-only-13-percent-of-ceos-why/

 

[2] https://news.ohsu.edu/2017/05/11/women-responsible-for-most-health-decisions-in-the-home

 

BÌNH LUẬN CỦA BẠN