Việt Nam đã sẵn sàng cho Cách mạng công nghiệp 4.0

128

Việt Nam đang nỗ lực để có thể thích ứng với những công nghệ tân tiến trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ở nhiều ngành lĩnh vực. Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành GE khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, ông Wouter Van Wersch đã có những chia sẻ với phóng viên Thu Giang của Việt Nam News về sự sẵn sàng của Việt Nam trong việc tham gia vào nền kinh tế kỹ thuật số và kế hoạch hành động của GE tại đây.

Ông có thể đánh giá khả năng thích ứng của Việt Nam với những công nghệ tân tiến trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được không?

GE thấy được rằng Việt Nam đang có những bước thay đổi để bắt kịp xu hướng mới với một sự cam kết cao. Một nghiên cứu của Học viện Lãnh đạo Thế giới tại Đại học Tufts Mỹ vào năm 2018 cho thấy Việt Nam xếp hạng thứ 48 trên 60 quốc gia đang nhanh chóng chuyển đổi sang nền kinh tế kỹ thuật số.

Thị trường Việt Nam có sự sẵn sàng cao thể hiện qua lực lượng dân số trẻ nhanh chóng thích nghi được với những công nghệ mới nhất. Việt Nam có tiềm năng lớn trong việc đi đầu xu hướng với lượng lớn người sử dụng internet và các ứng dụng điện thoại thông minh ở cả thành phố và nông thôn. Việt Nam hiện đang phấn đấu để trở thành một trong 10 nước sản xuất phần mềm và nội dung số lớn nhất, với khoảng một triệu người làm việc trong lĩnh vực IT vào năm 2020.

Sự sẵn sàng và tiềm năng của Việt Nam sẽ là bàn đạp vững chắc cho đất nước để bắt kịp với cuộc cách mạng.

Từ góc nhìn công nghệ, tôi có thể nói cuộc cách mạng kỹ thuật số đang thay đổi bộ mặt của tất cả các ngành công nghiệp. Bên cạnh việc mang công nghệ tới Việt Nam trong các lĩnh vực như năng lượng, năng lượng tái tạo, y tế và hàng không, nhà máy chế tạo máy phát điện quạt gió của GE tại Hải Phòng cũng đang dẫn đầu sự thay đổi này. Sau 10 năm hoạt động và hai năm chuyển đổi, GE Hải Phòng hiện chính thức nằm trong nhóm năm nhà máy xuất sắc của chúng tôi trên toàn cầu. Điều đó giúp chúng tôi tận dụng tối đa những giải pháp kỹ thuật số liên quan, nâng cao quy trình chế tạo và tối ưu hóa để có thể dẫn đầu trong nền công nghiệp 4.0. Nhà máy đã góp phần đem lại hàng trăm triệu đô la doanh thu xuất khẩu hàng năm.

Hơn nữa, GE cũng đem lại cho Hải Phòng nói riêng và Việt Nam nói chung một đòn đẩy cần thiết bằng cách mang tới cho đất nước những công nghệ tầm cỡ thế giới và chuyên môn quản lý trong khi vẫn cố gắng đảm bảo những lợi ích cho nền kinh tế địa phương. Không chỉ trong quá trình đào tạo và tuyển dụng, chúng tôi còn địa phương hóa nguồn cung và đề xuất nguyên tắc quản trị tương thích với 4.0. Đây là một ví dụ rõ ràng cho thấy khả năng thích ứng của Việt Nam trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Bộ Chính trị vừa qua đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW với nhiều hướng dẫn và chính sách hướng tới sự chủ động tham gia vào nền công nghiệp 4.0. Theo ý kiến của ông, điều gì quan trọng nhất để biến đều đó thành sự thật?

Việc số hóa có vai trò vô cùng hiệu quả trong việc đảm bảo sự linh hoạt và bền vững cho các nền tảng hạ tầng cho dù có điều gì xảy ra. Xã hội hiện đại phức tạp một cách không thể tin được. Sẽ phải mất nhiều năm để có thể tìm ra cách để tận dụng triệt để các tính năng của các sản phẩm và dịch vụ rồi sau đó áp dụng cho các doanh nghiệp. Những cuộc cách mạng công nghiệp trước đã diễn ra trong hàng thập kỷ và không có lý do gì để nghĩ rằng cuộc cách mạng lần này sẽ khác. Nhưng có một điều chắc chắn, đó là những ai đang đi đầu trong công nghệ số sẽ nắm trong tay lợi thế lớn trong cuộc chơi này.

Dựa trên kinh nghiệm của chúng tôi trong quá trình chuyển đổi kỹ thuật số trên toàn thế giới, hợp tác trong công nghiệp/ đổi mới và phát triển lực lượng lao động trong tương lai là điều cực kì quan trọng. Công cuộc chuyển đổi kỹ thuật số yêu cầu mở rộng sự hợp tác trong các ngành công nghiệp. Các công ty khởi nghiệp, chính phủ và các tập đoàn/ tổ chức đa quốc gia phải cùng nhau phát minh ra các công nghệ mới. Các học viện công lập lẫn tư nhân cần phải có trách nhiệm chung trong việc thu hẹp khoảng cách về kỹ năng và đảm bảo nhân lực của chúng ta được chuẩn bị sẵn sàng cho tương lai. Chúng tôi đang thực hiện phần việc của mình bằng cách tích cực đầu tư vào quá trình phát triển nhân lực cho tương lai thông qua đào tạo, thu hút những tài năng trẻ và khuyến khích sự sáng tạo trong đội ngũ nhân lực toàn cầu.

Vậy theo ông sẽ có những thách thức nào cho Việt Nam trong quá trình chuyển đổi kỹ thuật số?

Thật đáng hoan nghênh khi Chính phủ Việt Nam đã bổ sung quá trình chuyển đổi kỹ thuật số như một mục tiêu cần đạt được trong chương trình nghị sự phát triển. Tôi cho rằng một trong những thách thức quan trọng trong quá trình chuyển đổi kỹ thuật số là sẽ không có bất kỳ một giải pháp cho mọi vấn đề hay công thức chung cho sự thành công nào cả. Chuyển đổi kỹ thuật số có thể coi là một quá trình học hỏi cho tất cả các bên tham gia, kiến thức là sức mạnh căn bản ý chí và kĩ năng của con người để nắm bắt sự thay đổi là vô cùng quan trọng. Khả năng sử dụng và tận dụng tối đa công nghệ cũng rất quan trọng, có thể được bồi dưỡng qua các chính sách giáo dục tập trung vào phát triển kỹ năng. Chuyển đổi kỹ thuật số không thể diễn ra chỉ sau một đêm. Quá trình này đòi hỏi sự hợp tác xuyên suốt tất cả các khu vực và cần thời gian để chuẩn bị nhân lực.

Cuối cùng, chuyển đổi kỹ thuật số cần được cân bằng với phát triển bền vững và đóng vai trò như một công cụ để duy trì sự bền vững. Do đó, sáng tạo và có trách nhiệm là yêu cầu để có thể đem lại những lợi ích bền vững cho sự đổi mới.

Ông có thể chia sẻ với độc giả về kế hoạch hành động của GE trên thị trường Việt Nam?

Hiện tại, GE đang góp phần đem lại hơn 30% tổng lượng điện năng tại Việt Nam. Các thiết bị của chúng tôi hiện góp vai trò quan trọng cho những dự án điện năng trọng điểm từ nhiệt điện tới thủy điện. Năng lượng tái tạo cũng là một lĩnh vực chúng tôi đang tham gia và nó đang cho thấy tiềm năng to lớn. Chúng tôi đã và đang hỗ trợ nâng cấp hàng nghìn km đường truyền tải điện quốc gia và cung cấp các thiết bị đường truyền cho nhiều dự án khác tại Việt Nam.

Về y tế, mỗi ngày có hơn 50% các bệnh viện trên khắp cả nước sử dụng ít nhất một thiết bị y tế của GE. Về công nghệ hàng không, chúng tôi đang trợ giúp vận hành động cơ cho các đội bay của Vietnam Airlines, Vietjet Air và Bamboo Airways.

Tầng lớp trung lưu tại Việt Nam đang có sự gia tăng nhanh chóng. Điều này không chỉ đòi hỏi nhu cầu khám chữa bệnh gia tăng mà còn là nền y tế chất lượng cao hơn. Tôi cho rằng mảng kinh doanh về y tế của GE sẽ đóng một vai trò quan trọng trong quan hệ đối tác công tư với các bệnh viện để đảm bảo rằng người Việt Nam có được chất lượng khám chữa bệnh đáp ứng nhu cầu.

Ngoài ra, chúng ta vẫn đang thấy được sự gia tăng nhanh chóng nhu cầu về năng lượng của Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia khác thế giới. Chúng ta phải giải quyết các bài toán về đa dạng hoá nguồn năng lượng và giải quyết các thách thức về môi trường cũng như sự cần thiết của việc giảm tối đa lượng khí thải. Điều này làm tăng nhu cầu sử dụng năng lượng tái tạo, khí gas và những nguồn năng lượng khác thân thiện với môi trường. Sử dụng những công nghệ tiên tiến như động cơ tua bin khí 9HA là vô cùng quan trọng trong việc hỗ trợ chính phủ đặt được mục tiêu về năng lượng.

Trong lúc này, ngành hàng không Việt Nam đã sẵn sàng cho một sự phát triển mạnh mẽ, số hành khách được kì vọng sẽ tăng gấp ba lần từ nay cho tới năm 2030. Khi có nhiều hành khách di chuyển bằng máy bay, các hãng hàng không gần như sẽ mở rộng tổ đội bay của họ và đây là một tin vui đối với những doanh nghiệp sản xuất động cơ chất lượng cao như GE. Đó là một cơ hội phát triển lớn mạnh cho chúng tôi ở Việt Nam, và đó là lý do tại sao chúng tôi đang hăng hái tìm kiếm đối tác là các hãng hàng không đến vậy.

Liệu trong tương lai ông sẽ mở ra những khóa đào tạo nhân viên Việt Nam không?

Trên toàn thế giới, GE hiện chi 1 tỷ đô la Mỹ mỗi năm cho đào tạo và giáo dục, giúp chúng tôi trở thành công ty tốt nhất trên thế giới dành cho các lãnh đạo vào năm 2015. GE đưa ra vô số cơ hội để phát triển cũng như các khóa đào tạo và chương trình đào tạo lãnh đạo cho tất cả các nhân viên trên mọi khu vục, bao gồm cả Việt Nam.

Là một doanh nghiệp, GE tin vào việc đào tạo nhân viên ở mỗi quốc gia, chúng tôi gọi đó là trách nhiệm công ty với quốc gia đó. Chúng tôi thay đổi chiến lược tại Việt Nam cũng như ở các nước khác, xem xét đâu là điểm cần phát triển và chắc chắn rằng chúng tôi sẽ đưa ra được giải pháp hợp lý nhất. Để làm được việc đó, xây dựng đội ngũ nhân viên trong nước là điều tối quan trọng và tôi rất tự hào rằng tất cả 2,000 nhân viên của chúng tôi tại Việt Nam là người bản địa.

Lợi thế lớn nhất khi có một đội ngũ nhân viên bản địa chính là sự hiểu biết về khu vực. Trong khi đó, hệ thống đào tạo và phát triển của GE trang bị cho các nhà lãnh đạo kiến thức và kỹ năng cần thiết cho phép họ phát triển và làm việc hiệu quả hơn. GE cũng cung cấp những chương trình đào tạo theo yêu cầu (kỹ năng cứng và kỹ năng mềm) cho mỗi cá nhân ở nhiều cấp độ tùy theo các cấp bậc. – VNS

Ảnh trên cùng: Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành GE khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Wouter Van Wersch.
Xem thêm tại: Vietnam News

BÌNH LUẬN CỦA BẠN